Thu. Oct 6th, 2022
VÍ DỤ VỀ BẤT NGỜ

https://www.youtube.com/watch?v=tps://creatoracademy.youtube.com/page/lesson/storytelling

Lê Sỹ Minh Tùng

*
*

Theo quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tây, Vô thức là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng tâm lý, hành vi, tình cảm tồn tại trong một cá nhân mà cá nhân đó không nhận thức được, không thể mô tả được. ngôn ngữ cho chính họ và cho người khác. Đó là những hoạt động của hệ thần kinh nằm ngoài mức độ ý thức của con người. Ở trạng thái vô thức, ý thức của con người không hoạt động hoặc hoạt động lờ mờ. Khi đó, hệ thần kinh không kiểm soát được nhân quả, không đặt ra câu hỏi về mâu thuẫn hay nghi ngờ mà chỉ nhằm thỏa mãn yêu cầu của bản năng và hành động xảy ra mà không cần lý do. ảnh hưởng đến không gian và thời gian. Ngược lại, hành vi có ý thức luôn nằm trong phạm vi trách nhiệm, biết trước hậu quả có nghĩa là tại sao chúng ta phải làm điều này và nó sẽ gây ra hậu quả gì trong tương lai.

Bạn đang xem: Những ví dụ về sự vô thức

Trong cuốn sách Strangers to Ours yourself: Discover the Adaptive Unconscious, do Giáo sư Timothy D. Wilson viết ở trang 24 có dẫn chứng rằng: Mỗi giây, năm giác quan của con người là mắt, mũi, khứu giác, tai, miệng, vị giác và cảm giác. tiếp xúc nhận được khoảng 11 triệu ý tưởng từ bên ngoài vào trong tâm trí. Trong số 11 triệu ý tưởng đó, mắt đã nhận được hơn 10 triệu ý tưởng để chuyển vào hệ thống não bộ. Nhưng hệ thống thần kinh của não bộ chỉ có thể xử lý 40 ý tưởng mỗi giây. Vậy câu hỏi mà các nhà khoa học đặt ra là 11.999, 960 ý tưởng không được bộ não kia phân tích sẽ đi về đâu và ảnh hưởng hay ảnh hưởng đến mức độ ý thức của con người như thế nào? Do đó, nhà tâm lý học Sigmund Freud đã đưa ra tảng băng tâm lý, trong đó ông cho rằng phần tiền thức (trí nhớ và khả năng lưu giữ kiến ​​thức) và vô thức tạo nên phần lớn tâm trí con người. . Vô thức luôn thôi thúc và lấn át ý thức khiến con người có những suy nghĩ, lời nói hay hành vi không kiểm soát được.

Đầu tiên)Kiểm duyệt có ý thức và kiềm chế các hành vi do vô thức điều khiển:

Ví dụ, khi mua sắm ở Norstrom, hàng hóa ở đó rất đắt và rất đẹp. Khi nhìn thấy một món đồ có giá trị, tiềm thức của chúng ta luôn thôi thúc chúng ta lấy trộm món đồ đó và bỏ vào túi, bất chấp việc bị bắt quả tang, đi tù hay bị khám xét. Ngược lại, nếu chúng ta có ý thức, tức là trở về sống với lương tâm mà nhà Phật gọi là tỉnh giác, thì chúng ta từ bỏ ngay ý định bất chính đó.

Ví dụ, tại nơi làm việc, cảm giác đói khiến bạn muốn ra ngoài mua đồ ăn. Nhưng nhận thức được trách nhiệm của mình và những hậu quả có thể xảy ra nếu bỏ ăn khiến chúng ta phải ngồi lại và tiếp tục làm việc. Khi đó, vô thức thúc giục chúng ta thỏa mãn những ham muốn về bản ngã, nhưng ý thức giúp chúng ta nhận thức được đâu là đúng, đâu là sai.

2)Ý thức có thể được giải quyết thông qua vô thức:

Trong cuộc sống hàng ngày, cánh cửa tâm hồn được thông qua ánh mắt, lời nói, cử chỉ hay lời nói bộc phát của người đối thoại có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào những điều ẩn giấu trong tâm hồn. của chúng.

Chẳng hạn, anh A yêu thầm chị B từ lâu nhưng vì điều kiện gia đình hai bên không phù hợp nên anh A chỉ biết giấu kín tình yêu thầm lặng trong lòng. Một ngày nọ, vì uống nhiều và không kiểm soát được suy nghĩ của mình, anh A đã nói với mọi người nỗi lòng của mình. Ở đây, ý thức cho thấy anh A yêu thầm chị B bằng cách giấu giếm, nhưng ý thức đó thể hiện qua lời nói vô ý thức khi uống nhiều rượu, nghĩa là khi rượu vào thì lời nói ra, không kiềm chế được. .

Một ví dụ khác là cuộc điều tra một vụ giết người. Khi cán bộ công an khám nghiệm nghi can, người này có nhiều biểu tượng lạ như vã mồ hôi, sợ hãi, nói không đồng nhất … Các dấu hiệu trên đều là biểu tượng của người vô thức. Hành vi giết người tuy được che giấu bằng ý thức nhưng lại được biểu hiện bằng những hành động vô thức.

Xem thêm: Mp3 Giảng Pháp Mp3, Giảng Pháp

Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà nghiên cứu có chung nhận định rằng phần lớn tư duy của con người đều bắt đầu từ vô thức vì vô thức là nền tảng của ý thức. Trong đó, bao nhiêu kinh nghiệm, ký ức và tiềm năng đã được cất vào kho vô thức. Họ cho rằng vô thức luôn có trước vì nó là một tiềm năng bẩm sinh mà ai cũng có, nhưng câu hỏi đặt ra là nó có được đánh thức hay không và ở mức độ nào. Vì vậy, ý thức là cái có sau, được hình thành qua quá trình sống và phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh môi trường của cuộc sống. Cuối cùng, các nhà phân tâm học mà Tiến sĩ Freud là trưởng nhóm đã kết luận rằng “Vô thức và ý thức có quan hệ mật thiết với nhau, và sự vắng mặt của một trong hai sẽ dẫn đến suy nghĩ tê liệt. Nhưng quan trọng nhất, vô thức đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sáng tạo của con người, góp phần tạo ra những thiên tài, vĩ nhân, thần đồng trong mọi lĩnh vực từ âm nhạc, hội họa, kiến ​​trúc, khoa học. đến tinh thần …

Một ví dụ về khoa học là nhà khoa học Mendeleev (1934-1907), người đã phát minh ra bảng tuần hoàn các chất hóa học sau một giấc ngủ. Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài của não bộ. Với tất cả những kinh nghiệm nghiên cứu được lưu giữ trong vô thức và đến một lúc nào đó, từ trong vô thức, những khám phá đó được tiết lộ mà chúng ta gọi là phát minh. Nhìn chung, những thiên tài trong xã hội là những người có trực giác cao. Họ có khả năng nhận thức kiến ​​thức từ vô thức và có những khám phá phi thường. Nhiều phát minh khoa học và lý thuyết khoa học được khám phá nhờ trực giác của những người có trực giác mạnh mẽ và nhạy bén.

Một ví dụ khác là khi mới bắt đầu học đi xe đạp, ban đầu chúng ta phải dùng ý thức để điều khiển các động tác như đạp, quay đầu và cố gắng giữ thăng bằng… Cho đến khi thành thạo thì chúng ta mới ngồi dậy. Xe là bàn đạp tự nhiên, tay chuyển hướng mà không cần điều khiển các hành động có ý thức nữa. Vì những trải nghiệm đó vốn đã tiềm ẩn trong vô thức nên người ta chỉ cần đánh thức nó sẽ có tác dụng tức thì.

Tóm lại, trẻ em hầu hết sống bằng vô thức, rồi khi lớn lên, ý thức dần dần góp phần vào quá trình tư duy của chúng. Khoa học cho rằng vô thức đã có từ khi trẻ mới sinh ra hoặc có thể ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Điều này rất phù hợp với Phật giáo vì Phật giáo cho rằng mặc dù con người mới kết hợp với noãn của người mẹ nhưng Ý thức (ký ức, kinh nghiệm, v.v. của tiền kiếp) đã theo sát đứa bé. Đó là lý do tại sao có những người khi sinh ra đã rất giỏi nhiều môn học khác nhau. Có người là nhà khoa học, nhà bình luận, nhà triết học … Khi lớn lên, chúng ta đi học, đi làm bất cứ việc gì, từ đó ý thức trở thành vô thức thông qua các hoạt động lặp đi lặp lại theo thời gian. Sự tích lũy đó trong ký ức được Đức Phật gọi là Uẩn.

Vô thức có thể chuyển hóa thành ý thức không?

Khi còn là những đứa trẻ ở Trung tâm mua sắm, chúng tôi thường đòi bố mẹ mua một món đồ chơi. Nếu không thì khóc… Vì vậy, hành động đòi quà của bé là vô ý thức vì nó không thể ý thức được hành vi của mình mà chỉ muốn thỏa mãn cái tôi lúc đó. Nhưng khi lớn lên, nó nhận thức được vấn đề, có sự lựa chọn. Bây giờ nó biết tại sao nó thích nó nên mua nó hay không.

Do đó, không có ranh giới rõ ràng giữa ý thức và vô thức. Họ luôn chuyển hóa lẫn nhau và cũng chính vì mối quan hệ đó là động lực chính giúp mọi người cân bằng đời sống tinh thần, không còn quá căng thẳng.

Vô thức nói chung, với sự đa dạng và phức tạp của nó, vẫn là một chủ đề cực kỳ khó hiểu đối với các nhà thần kinh học và tâm lý học. Mặc dù con người luôn tự hào về những khám phá khoa học về vũ trụ, về lượng tử, về máy tính… nhưng đối với bộ não nhỏ bé và hệ thần kinh chằng chịt của họ vẫn còn rất nhiều bí ẩn mà có lẽ loài người chưa thể hiểu hết được.

Xem thêm:

Mặc dù khoa học vẫn đang mò mẫm về ý thức và vô thức, nhưng Phật giáo đã xác định rất rõ ràng sự vận hành của ngũ uẩn mà ở đó, mọi ý định đều có thể dùng chánh niệm để điều khiển nó. Đức Phật dạy rằng Ý thức là vua của tâm trí, là ống dẫn cho bất kỳ suy nghĩ, lời nói hay hành động nào của con người. Và cảm giác, tri giác, hành động là những yếu tố tinh thần, là điều kiện để tâm vương thực hành ý định đó. Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là năm giới bổ sung cho nhau. Nếu không có cảm giác hoặc tri giác, không thể có ý thức. Cũng như nếu không có hình thức thì không thể có cảm giác hay tri giác. Nếu bạn biết được những thay đổi của tâm mình, bạn có thể kiểm soát được thân, khẩu và ý của mình thì cuộc sống của bạn sẽ không còn đau khổ.

Nguồn: Chuyenla.com

By admin

Leave a Reply

Your email address will not be published.