Mon. Oct 3rd, 2022
SO SÁNH MIỀN NAM VÀ PHẬT GIÁO MIỀN BẮC

Phật giáo trải qua nhiều thời kỳ khác nhau và từ đó sinh ra nhiều nhánh với tên gọi tùy theo điều kiện địa lý và cách giải thích kinh Phật.

Bạn đang xem: So sánh Phật giáo Nam tông và Bắc tông

*

Hình minh họa

Từ Ấn Độ, Phật giáo dần dần lan rộng ra các nước lân cận, rồi đến toàn bộ Đông Á, và cuối cùng là toàn thế giới. Sự lan truyền này đi theo 2 hướng: 1 hướng Bắc, 1 hướng Nam.

Ở miền Bắc gọi là Phật giáo Bắc truyền (với tư tưởng Đại thừa) gồm các vùng: Tây Tạng, Trung Quốc, Mông Cổ, Mãn Châu, Bắc – Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Bắc Việt …

Phía Nam gọi là Nam tông (với tư tưởng Tiểu thừa) gồm các vùng: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Nam Việt Nam …

Tư tưởng Đại thừa (cỗ xe lớn) có thể chở nhiều người cùng một lúc, còn Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) chỉ có thể chở một hoặc một vài người.

Theo quan điểm Đại thừa:

Đại thừa (大乘, sa. Mahāyāna), dịch âm Hán Việt là Ma-ha-di-na (摩訶衍 那) hay Ma-ha-di (摩訶衍), tức “cỗ xe lớn” hay còn gọi là Đại Thắng có nghĩa là ” bánh xe lớn ”là một trong hai trường phái lớn của Phật giáo. Xuất hiện vào thế kỷ đầu tiên trước Công nguyên, ngôi trường này tự xưng là cỗ xe vĩ đại dựa vào sự đa dạng của các giáo lý để mở đường cho một số lượng lớn chúng sinh đạt được giác ngộ. Cả Tiểu thừa và Đại thừa đều bắt nguồn từ Đức Phật Thích Ca trong lịch sử, nhưng khác nhau về sự quan tâm của họ đối với thực hành và tư tưởng Giáo Pháp. (Sa. Sarvasattva). Nhân vật đại diện của Đại thừa là bồ tát (sa. Bod Bodhi) có đặc tính chủ đạo là lòng từ bi (sa., Pi. Karuṇā). Bài kinh được coi là văn bản Đại thừa đầu tiên là Bát nhã ba la mật đa (般若 八千 頌, sa. Aṣṭasāhasrikā prajñāpāramitā).

Theo quan điểm của Theravada:

Hinayana (小乘, sa. Hīnayāna, bo. Theg dman) hoặc Little Thing có nghĩa là “phương tiện nhỏ” hoặc “bánh xe nhỏ” (sa. Hīnayāna). Hinayana thường được một số đại diện của trường phái Đại thừa (sa. Mahāyāna) dùng để chỉ những người theo “Phật giáo Nguyên thủy”, “Phật giáo Nguyên thủy”. Ngày nay ý nghĩa miệt thị của danh từ này đã biến mất và nó chỉ mang tính chất mô tả. Trước năm 1950. Nhiều nhà nghiên cứu Phật học đã cố gắng thay thế danh từ này nhưng không thành công vì danh từ này đã ăn sâu vào tâm trí của nhiều Phật tử. Một thuật ngữ dành cho các Phật tử Nguyên thủy thường gặp trong kinh là shravaka (zh. 聲聞, sa. Śrāvaka).

Trước đây, chúng ta thường nghĩ rằng giáo lý Nguyên thủy là giáo lý Tiểu thừa không đưa đến quả vị Phật tối thượng, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Đức Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy cho rằng giáo lý Nguyên thủy là sự truyền dạy nguyên thủy của Đức Phật, trong khi giáo lý Đại thừa không phải là giáo lý của Phật giáo. Sự bất đồng chính kiến ​​đó đã đóng băng mối quan hệ của hai truyền thống lâu đời hàng thiên niên kỷ. Ngày nay, với sự tiến bộ của phương tiện, mọi khía cạnh của xã hội đã thay đổi, các quan điểm Tiểu thừa và Đại thừa không còn phù hợp nữa. Nghiên cứu cho thấy rằng:

1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy đến thời kỳ Bộ phái (400 năm sau Đức Phật) không có danh từ Đại thừa hay Tiểu thừa. Các thuật ngữ Đại thừa và Tiểu thừa xuất hiện đồng thời với các kinh điển Đại thừa vào khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên hoặc sau Công nguyên.

Xem thêm: Download Kinh Duc Su Thich Tri Thoat Lagu Mp3 Master Thich Tri Thoát Tường

2. Thuật ngữ Theravada không nên hiểu là Nguyên thủy mà chỉ để chỉ thời kỳ bộ phái tranh chấp cách thức hành đạo mà thời đó các bộ phái quá chú trọng vào lý thuyết và hình thức.

3. Ngày nay không có hệ thống Tiểu thừa nào có mặt trên thế giới. Năm 1950, Hiệp hội Phật giáo Thế giới (WFB) họp tại Colombo (Sri Lanka) đã nhất trí quyết định loại bỏ các thuật ngữ Tiểu thừa và Đại thừa khi đề cập đến hai truyền thống lớn nhất của Phật giáo. . Thay vào đó là các danh xưng Phật giáo Bắc truyền và Phật giáo Nam tông.

4. Giáo lý được chia thành hai truyền thống: Truyền thống Nguyên thủy và Truyền thống Phát triển. Về mặt địa lý, dòng truyền thừa được gọi là Phật giáo Bắc truyền và Phật giáo Nam truyền. Dùng hai chữ Nguyên thủy và Phát triển để thể hiện sự minh bạch của cây đại thụ, giáo lý Phật giáo, mà gốc và gốc là Nguyên thủy; thân, cành và lá đang Phát triển. Không có cây nào có thể được gọi là cây mà không có gốc hay ngọn. Tính nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không nằm ngoài hệ thống Nguyên bản và Đã phát triển – cả hai đều bổ sung cho nhau. Các tư tưởng Phật giáo Phát triển phải được kế thừa từ giáo lý Nguyên thủy, nếu không học thuyết Phát triển sẽ mất giá trị.

5. Mặc dù truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những khác biệt, tuy nhiên, chúng không phải là cơ bản. Ngược lại, những điểm tương đồng rất cơ bản như sau:

một/. Cả hai đều công nhận Đức Phật là Thầy.

b /. Cả hai đều chấp nhận và thực hành giáo lý Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi…; đều chấp nhận Ba Pháp Ấn là Khổ, Không, Vô ngã; Tất cả đều chấp nhận con đường tu tập: Giới – Định – Tuệ.

c/. Cả hai đều phủ nhận một đấng tối cao tạo ra và thống trị thế giới.

Nói tóm lại, kinh Nguyên thủy là bộ kinh ghi lại những lời nói của Đức Phật và Thánh chúng một cách đầy đủ nhất. Bài kinh này thiết thực và gần gũi với tâm lý con người và sinh hoạt xã hội. Đây là cơ sở giáo lý mà chúng tôi lấy làm nền tảng cho mọi công việc nghiên cứu, thực hành và nhất là hiểu đúng về sự phát triển của tư tưởng Phật giáo.

Xem thêm: Mừng Tết xưa và nay – Những điểm khác biệt thú vị giữa Tết xưa và nay

Tuy nhiên, trải qua hơn 400 năm truyền khẩu và hơn 2000 năm hoằng truyền, kinh không tránh khỏi những thiếu sót, bổ sung của người tiếp thu, tức là kinh vẫn chưa thuần Nguyên thủy. mà không nắm vững hệ Nguyên thủy thì độ chính xác không cao. Việc coi Giáo luật Nguyên thủy là thấp kém là rất sai lầm và nguy hiểm. Cây đại pháp phải là cây hoàn hảo từ gốc đến ngọn.

Nguồn: Chuyenla.com

By admin

Leave a Reply

Your email address will not be published.