Mon. Oct 3rd, 2022
PHẬT DI ĐÀ ra đời

Phật Di Lặc là một trong ba vị Phật trong Phật giáo. Anh là biểu tượng của hòa bình, vui vẻ, may mắn và hạnh phúc.

Bạn đang xem: Phật Di Lặc đản sinh

Truyền thuyết về Phật Di Lặc

Theo kinh Phật, Di Lặc sẽ xuất hiện trên Trái đất để cứu thế giới và cứu nhân loại. Phật Di Lặc xuất hiện khi đã giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật pháp và biến chúng sinh thành Phật. Phật Di Lặc là vị Phật tiếp theo sau Phật Thích Ca. Đức Phật Di Lặc được tiên tri sẽ sinh ra trong kiếp hạ giới của một tiểu kalpa tiếp theo, khi tuổi thọ của Ngài là 80.000 năm, tức khoảng hàng trăm triệu năm từ năm Trái đất, khi Phật pháp đã bị nhân loại hoàn toàn lãng quên.

*

Phật Di Lặc xuất hiện khi nào?

Truyền thuyết về Phật Di Lặc cũng được tìm thấy trong các kinh điển Phật giáo như Nguyên thủy, Đại thừa và Kim cương thừa. Phật Di Lặc sẽ là người khai sáng Phật pháp và thuyết giảng cho chúng sinh như các vị Phật trong lịch sử. Năm Đức Phật xuất hiện trên Trái đất được coi là hóa thân của Ngũ Phật, Phật Di Lặc được coi là hóa thân của Kinh Thành (Ngũ Trí). Phật Di Lặc cũng được coi là người sáng lập ra trường phái Tâm Chỉ của Đại thừa.

Nguồn gốc của Phật Di Lặc

Phật Di Lặc trong tiếng Phạn gọi là: Metteyya, Maitreya (Phạn), Jhampa (Tây Tạng), Milo (Nhật Bản), Từ Thị (Trung Quốc) có nghĩa là Đấng Từ Bi, người có lòng từ bi, giống nòi. nhân hậu. Theo Kinh Đại Nhật, Từ Thị có nghĩa là từ bi. Lòng từ bi này được sinh ra từ Như Lai hay Phật tính. Ấn Độ là nơi khởi nguồn của Phật giáo nên tên các vị Bồ tát của Phật giáo thường bắt nguồn từ đây. Vì vậy, chúng ta phải hiểu rằng nguồn gốc tên Di Lặc của Ngài chỉ là một thói quen phát âm của người Việt Nam chúng ta. Ở Tùy Hy trong Kinh Pháp Hoa và Kinh Bình Đẳng Giác Ngộ, Di Lặc là A Di Đà (tiếng Phạn: Ajita, tiếng Trung Quốc dịch là Bất khả chiến bại, Bất khả chiến thắng hay Tam độc). Ông là đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Nhưng theo Luận về Văn tự trong Trung Bộ Kinh, Kinh Xuất Hành và Luận Luận Tập 178, thì Di Lặc và A Di Đà là hai nhân vật khác nhau.

Trong bài này, chúng ta sẽ phân tích tên của Ngài:

Trong kinh Từ Thị Bồ tát Hạ Sinh kể lại rằng: Xưa Đức Phật cùng chư Tăng bàn luận về sự xuất hiện của vị Bồ tát tương lai này, Đức Phật cho rằng: Thuở ấy, vua Loa có một vị đại thần tên là Thiên Tinh. Vợ của đại thần Thiên Tinh lúc bấy giờ tên là Tinh Diệu. Lúc bấy giờ, ở cõi Trời Hạnh Phúc, khi chiêm ngưỡng cha mẹ không già cũng không trẻ, Từ Thị Bồ Đề Tâm xuống lòng mẹ, rồi sinh từ hông bên phải. Điều này cũng giống như đức Phật đản sinh từ hông phải của Từ Thị Bồ tát. Lúc bấy giờ, đại thần Thiên Tinh đặt tên con là Từ Thị. Bồ tát Từ Thị Bồ tát có thân bằng vàng với 32 thiện hiệu và 80 sắc đẹp dùng để trang nghiêm thân mình. Khi đó, tuổi thọ của con người rất dài, không gặp hoạn nạn và đều sống đến 84.000 tuổi. Khi người phụ nữ 500 tuổi, họ sẽ kết hôn. Lúc bấy giờ, Bồ tát Từ Thị tại gia không bao lâu sẽ xuất gia học Đạo. Vì vậy cái tên Từ Thị bắt nguồn từ đây.

Tiếp theo là Tên của Ngài là Bất khả chiến bại. Theo định nghĩa của tiếng Trung, nó có nghĩa là không thể. Vì người ấy là người tu Sáu Ba La Mật đến bờ bến, và không ai có thể đánh bại được người ấy. Đó là lý do tại sao mọi người gọi anh ta là Bất khả chiến bại. Định nghĩa về Sáu viên mãn: Sáu viên mãn là sáu phương tiện để con người đi từ bờ mê lầm đến bờ giác ngộ. Đây là pháp môn của các vị Bồ tát. Nhưng bồ tát không bao giờ an trú ở bến bờ giác ngộ vì mục tiêu tu tập của bồ tát không chỉ nằm ở việc hoàn thiện bản thân mà còn là cứu độ chúng sinh.

*

Nguồn gốc của Phật Di Lặc

Theo một truyền thuyết khác, khi còn sống, Phật Di Lặc là một người được sinh ra như đã nói ở trên. Sau khi gặp Phật, ông xuất gia và thực hành hạnh Bồ tát. Sự tích về Phật Di Lặc đã được nhiều kinh điển đề cập đến. Đức Phật dạy rằng: Sau này trong thế giới saha, con người trở nên rất độc ác và họ bỏ qua mười việc tốt và chỉ làm mười việc ác. Đức Phật dạy rằng: Sau này trong thế giới saha, con người trở nên rất độc ác và họ bỏ qua mười nghiệp tốt và chỉ làm mười nghiệp xấu. Do đó, tuổi thọ con người giảm dần xuống chỉ còn 10 năm (hiện nay, tuổi thọ con người được coi là 100 tuổi). Khi đó, khi gặp nạn chiến tranh, chết chóc, báo thù, bà con hãy nhớ 10 nghiệp lành mà tu, phải tu đến 80 vạn kiếp thì Phật Di Lặc mới giáng sinh dưới cây Hoa Rồng.

Ý nghĩa tượng phật di lặc

Trong Phật giáo, nụ cười của Phật Thích Ca được gọi là nụ cười an lạc, nụ cười của Phật Di Lặc là nụ cười hoan hỷ. Nếu trong cuộc sống chúng ta luôn trao nhau những nụ cười vô nhiễm thì cuộc đời này sẽ bình yên biết bao.

Hình tượng Phật Di Lặc ngày nay được khắc họa với thân hình khỏe khoắn, mập mạp, áo hở rốn để lộ rốn, đi chân đất. Tính tình của Phật Di Lặc cũng được miêu tả là giống người một cách kỳ lạ, không nói nên lời, thích ngủ chỗ nào thì ngủ.

Xem thêm: Aspirin Chiều: Ứng dụng Luật Hấp dẫn, Nàng tiên xanh

*

Tượng phật di lặc

Điểm đặc biệt nhất khi ngắm nhìn tượng phật di lặc chính là nụ cười hoan hỷ bất diệt và sự độ lượng vô biên. Nụ cười của Đức Phật mang lại cho người xem một cảm giác từ tâm, thanh thản và nhẹ nhàng vô hạn.

Đôi tai dài biểu thị lòng nhân hậu, đôi tai biết nghe ai khen cũng cười, ai chê cũng cười mà không làm mất lòng ai. Dấu hiệu bụng tròn tượng trưng cho lòng từ bi rộng lớn và ý chí chứa đựng mọi buồn phiền trần thế.

Phật Di Lặc có phải là Thần Tài?

Hình tượng Phật Di Lặc dựa trên một truyền thuyết của Trung Quốc. Vào thời Ngũ đại và Thập quốc (907-960), có một nhà sư mập mạp, mặc áo hở bụng, vẻ mặt rất phúc hậu, trên vai đeo một chiếc túi vải. Đi đâu anh cũng hỏi, người ta cho gì anh đều cho vào túi vải. Sau đó, Ngài đã cho đi tất cả những người con trên đường. Người ta gọi ông là “Bố của Hòa thượng” nghĩa là nhà sư đeo túi vải. Dù bị một số người mắng mỏ, thậm chí nhổ nước bọt vào mặt nhưng anh vẫn bình thản và tươi cười.

Dần dần, người ta lấy hình tượng đức Phật bụng bự, tai to, mặt to, miệng luôn tươi cười, phong thái luôn ung dung tự tại của Cha Đại Tổ Sư làm hình tượng Phật Di Lặc.

Không biết từ bao giờ, người ta đã đồng hóa Phật Di Lặc với Thần Tài, qua những hình vẽ hay tượng Phật, trên tay đã xuất hiện những thỏi vàng. Mặc dù, hình ảnh này sẽ làm giảm đi sự cao quý của Đức Phật, vì Ngài là người không còn dính mắc vào bất cứ thứ gì. Tuy nhiên, chính vì vậy mà hình tượng Phật Di Lặc được phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân chứ không gói gọn và giới hạn trong khuôn viên chùa.

Thờ Phật Di Lặc trong nhà

Chúng ta học theo gương Di Lặc, buông bỏ mọi chấp thủ và tuân thủ pháp luật. Nếu bản ngã đã được phóng ra, dù sáu tên trộm có phá phách đến đâu, chúng cũng không quấy rầy tâm ta. Tôi chế ngự họ và điều phục họ để trở thành người thân của công đức. Khi chúng ta giác ngộ, sáu tạng đó trở thành sáu loại thần thông (thần thông, thần thông, thần thông, tâm thông khác, thông mạng hoàn, lậu thông).

Biết được điều này, chúng ta học cách sống hạnh phúc và không ràng buộc. Tất cả đều an vui, bình an, lòng nhẹ như khinh khí cầu bay vào không gian, trí tuệ vô nhiễm khởi lên, tâm luôn thanh thản, sảng khoái, hồn nhiên như tâm hồn học trò chưa vướng bụi trần. Vậy đó, điều gì có thể khiến ta đau khổ, như trời biển sâu không còn bực bội, mê đắm, tinh thần bừng bừng, mặc cho tình yêu thuyền xuôi ngược không để lại dấu vết!

Thờ tượng Di Lặc hay tỏ lòng thành kính với Ngài, chúng ta phải nhớ rằng niềm vui và sự bình an là phương pháp tu tập chính để giải thoát mọi khổ đau. Có hạnh xả, có giải thoát, có hạnh phúc. Niềm vui và sự bình an là liều thuốc kỳ diệu chữa khỏi tất cả các bệnh về chấp trước của chúng sinh. Nụ cười của Di Lặc là nụ cười vĩnh viễn không bao giờ thay đổi.

Ngày Phật Di Lặc

Chúng ta không nghĩ rằng chúng ta phải đợi đến ngày chúng ta sinh ra để chết thì mới gọi là ngày thiên thu. Đây là ý nghĩa sâu xa của Thiền. Các vị Tổ sư đã khéo léo chọn ngày mùng 1 Tết là ngày vía của Đức Phật Di Lặc. Chúng con lạy ngài với câu: Long Hoa Đạo sĩ sắp sanh Di Lặc Tôn Phật. Các cụ xem thiên hạ coi mùng 1 Tết là ngày quyết định vận khí của cả năm. Ngày nay, mọi người thận trọng trong mọi lời nói, mọi hành động, mọi tên gọi đến thăm họ, và mọi việc. Như vậy, ngày mồng một Tết là ngày có ý nghĩa đối với tương lai của chúng ta. Ngày mùng 1 Tết đi chùa có ý nghĩa như thế nào? Chư Tổ lấy ngày mồng Một Tết là ngày vía của Đức Phật Di Lặc cũng là ngày tương lai tươi sáng, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mùng 1, chúng ta lạy Phật, lạy Di Lặc, đặt hết hy vọng vào tương lai, mong rằng mình sẽ thành Phật. Đừng mong giàu sang, sang trọng mà chỉ mong được thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu sắc nhất của ngày mùng 1 Tết đối với chúng ta thờ Phật Di Lặc.

Xem thêm: Van Sani’s Three Karmas – Tụng Kinh Sám Hối Của Ba

Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh Di Lặc đang cười. Đó là một hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có nơi thay vì để chữ Di Lặc cho người hạnh phúc.

Nguồn: Chuyenla.com

By admin

Leave a Reply

Your email address will not be published.