Thu. Oct 6th, 2022
Hòa thượng thích viên

Hòa thượng Thích Viên Thanh, thế danh Phùng Xuân Đạo, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1950 (1 tháng 6 Canh Dần) tại làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cha là ông Phùng Xuân Chí, mẹ là bà Nguyễn Thị Thìn.

Bạn đang xem: Hòa Thượng Thích Thành Viên

Khi anh chưa đầy một tuổi, bố anh đã sớm về miền Tây, anh chỉ biết trông chờ vào tình thương của mẹ và sự chăm sóc của bà ngoại và hàng xóm. Từng bước, cảnh sinh ly tử biệt ấy khiến anh sớm nhận ra lẽ vô thường của kiếp người, noi gương hai người dì là Sư cô Đàm Mậu và sư cô Đàm Ngộ trụ trì chùa Bi, tỉnh Vĩnh Phúc, anh Quyết thành xuất gia năm 12. Năm 15 tuổi, Ngài được Sư Ông Thích Thanh Chân, viện chủ động Hương Tích, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, nhận làm đệ tử.

Năm 19 tuổi, Ngài được Hòa thượng cho thọ giới Sa di. Sau khi thọ giới Sa Di, Ngài ngày càng tinh tấn trong việc hành đạo, nên đến năm 1972, Ngài được Bổn mạng Tam Đàn truyền giới tại Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Hà Sơn Bình.

Nhận thấy anh có ý chí tu học và siêng năng đọc sách, Hòa thượng kỳ vọng anh sẽ là một Pháp khí trong tương lai nên đã cho anh xuống núi theo học lớp Trung cấp Phật học tại chùa Quảng Bạ, Quán. . Sứ-Hà Nội, niên khóa 1973-1976. Trong thời gian tu học tại chùa Quán Sứ, không chỉ xuất sắc trong học tập mà còn nghiêm khắc kỷ luật nên khi ra trường, Ngài được Giáo hội tuyển chọn vào Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (nay là Học viện Việt Nam). Nghiên cứu Phật học). Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội) Khóa I, niên khóa 1981-1985.

Năm 1985, tốt nghiệp Cao đẳng Phật học tại Việt Nam, Ngài trở về quê cha đất tổ để phụng sự Tam Bảo và bắt đầu dấn thân vào con đường hoằng dương Phật pháp.

Sau khi xuất gia theo Phật học, Ngài nguyện làm sứ giả của Như Lai, đem ánh sáng từ bi và giác ngộ của Đức Phật soi sáng thế gian này với tinh thần vô ngã. Ngài luôn quan tâm đào tạo, giáo dục thế hệ Tăng Ni trẻ, coi đây là cách đền đáp công ơn trời biển thiết thực nhất. Vì vậy, ngoài việc tiếp Tăng chúng, Ngài còn là giảng viên Trường Trung cấp Phật học cũng như Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội.

Năm 1984, khi còn đang theo học tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, trước sự yêu cầu tha thiết của chính quyền và nhân dân địa phương, Hòa thượng đã về tiếp nhận chùa Thầy – di tích của Tổ sư Từ Đạo Hạnh.

Năm 1985, với phẩm hạnh trang nghiêm và chí nguyện từ bi không quản ngại, Ngài đã được Sư Ông, Thượng tọa Thích Thanh Chân tin tưởng giao thừa kế động Hương Tích.

Năm 1987, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam toàn quốc lần thứ III, Ngài được tấn phong Tăng thống và được suy cử vào Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN.

Tại Đại hội Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây lần thứ III, Ngài được suy cử làm Phó Ban Trị sự, kiêm Chánh Thư ký Tỉnh hội.

Để hướng đến tương lai Báo Ân Đức Phật, năm 1991, Ngài đã cùng chư Tôn đức trong Ban Trị sự thành lập Trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây và Ngài được giao trọng trách Phó Hiệu trưởng Thường trực nhà trường. .

Trong các đại giới đàn được tổ chức tại Hà Tây, Ngài được cung thỉnh làm Tôn sư chứng giám và Sư Yết ma.

Năm 1993, Ngài được suy cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN, đồng thời là Phó Ban Từ thiện Trung ương, Ủy viên Ban hoằng pháp Trung ương.

Năm 1998, chùa Thầy được chọn là điểm An cư kiết hạ của tỉnh Hà Tây, Hòa thượng được suy tôn là Bổn sư Đạo tràng cho đến khi viên tịch.

Từ năm 1998, Ngài được suy cử giữ chức vụ Phó Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni GHPGVN tỉnh Phú Thọ, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Thọ.

Xem thêm: Magical Spells for Wealth, Mantras for Fortune

Để đền đáp công ơn Tổ sư và trang nghiêm Tam bảo, cùng với cương vị trụ trì chùa Hương, Ngài đảm nhiệm thêm chức vụ Trưởng ban xây dựng và tu bổ chùa Hương vào tháng 3 năm 1989 (năm 1947 Thiện Chùa Trù được thành lập do Trưởng ban xây dựng và tu bổ chùa Hương). bị giặc Pháp tiêu diệt hoàn toàn). Ông đã cùng với các cơ quan hữu quan, Phật tử và nhân dân địa phương trùng tu Đại Hùng Bảo Điện, Nhà Tổ, Điện Hương Thủy,… Chỉ trong hơn 10 năm, quần thể di tích chùa Hương đã uy nghi và tráng lệ. tỷ lệ ngày hôm nay phần lớn là do công sức của anh ấy.

Thầy còn là Trụ trì chùa Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Tại đây, Hòa thượng đã cho tu sửa nhiều công trình, duy tu và phát triển khu di tích Chùa Thầy ngày càng trang nghiêm. Cũng chính nơi đây với tâm nguyện tu hành theo Mật tông, Ngài đã thắp lại ánh sáng cho dòng Mật tông do Đức Thánh Tổ Từ Đạo Hạnh khởi xướng cách đây gần một ngàn năm.

Trong suốt sự nghiệp hoằng pháp của mình, Ngài đã khắc ghi những dấu ấn kinh nghiệm của mình:

– Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN.

– Phó Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni, Phó Ban Văn hóa, Phó Ban Từ thiện xã hội Ban Trị sự Trung ương GHPGVN.

– Phó Trưởng Ban Thường trực Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây.

– Trưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ.

– Phó Hiệu trưởng Thường trực Trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây.

– Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tây.

– Ủy viên UBMTTQ tỉnh Hà Tây.

– Trụ trì Chùa Hương, Chùa Thầy, tỉnh Hà Tây.

Trong suốt cuộc đời, ông luôn tâm niệm: Chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp chân chính của người xuất gia, nên khi trở về Phương Trượng, ông chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết lách, và dịch thuật. Ngoài những bài báo đăng trên các báo và tạp chí, ông còn để lại nhiều tác phẩm và bản dịch như sau:

1. Quỹ Đại Bi Buồn

2. Tiêu chí đề xuất của Quỹ

3. Sáu độ Ta Ra

4. Sadhana Yoga

5. Tập Six Paths

6. Theo đuổi ngành đào tạo

7. Kí bút bên cửa tre

8. Khóa học Phổ Môn

9. Lược sử các Hệ phái Phật giáo

10. Lễ tụng kinh xuân thu.

11. Giới luật võng du.

12. Chùa Hương ngày nay

13. Chùa Thầy nổi tiếng.

14. Chuyện Phật Bà Chùa Hương

15. Quan Âm Thị Kính

16. Giỗ Tổ Chùa Hương

17. Văn khấn Nôm truyền thống

18. Bầu trời của Đức Phật

19. Bức tranh quê hương

20. Đề thi môn Thuyền.

Mặc dù phải phụ trách công tác Phật sự tại hai đại điểm là chùa Hương và chùa Thầy, đồng thời nhận các chức vụ của Phật giáo tỉnh nhà cũng như Giáo hội, nhưng Ngài vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương. . Dù ở cương vị công tác nào, ông cũng tận tâm, tận lực nêu gương sống tốt đời đẹp đạo. Anh nhận những công việc, chức vụ chỉ vì lợi ích của số đông, vì đồng bào và dân tộc. Ông là đại biểu Hội đồng nhân dân xã Hương Sơn, Hội đồng nhân dân huyện Mỹ Đức và từ năm 1994 ông là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh các khóa V, VI và VII. Trong cuộc sống với hạnh nguyện bồ tát, anh tích cực tham gia các công tác từ thiện xã hội để mang lại bình yên, hạnh phúc cho mọi người.

Do có nhiều đóng góp cho đạo pháp và dân tộc, Ngài đã được Nhà nước và Giáo hội tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen như: Huân chương Lao động hạng Ba, Huy chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc, húy Huyền Huyễn. . Huy chương Vì sự nghiệp bảo tồn văn hóa dân tộc, Huy chương Vì sự nghiệp nhân đạo, v.v.

Với nền tảng học vấn và phẩm hạnh trang nghiêm, lòng từ bi vô bờ bến, những tưởng Thầy sẽ ở lại thế gian lâu hơn để hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử trên đường trở về Bến Bộc. vô thường trả xác tứ thân về cõi mộng để trở về cõi hư vô, trường sinh bất tử vào lúc 18h40 ngày 31/5/2002 (20/4 năm Nhâm Ngọ). 53 năm, 32 năm.

Năm mươi ba năm tuy ngắn ngủi nhưng Ngài đã sống trọn vẹn, ý nghĩa, cống hiến hết mình cho đạo pháp và dân tộc. Những lời nguyện xả thân, vị tha của Ngài luôn là tấm gương sáng, là ánh sáng trí tuệ cho Tăng Ni, Phật tử ngày nay và muôn đời.

Xem thêm: Lời nói không mất tiền mua, Lập luận có câu nói không mất tiền mua (3 Mẫu)

Thực hiện đại nguyện tương ứng với Tam bảo

Quang tâm thực tánh của Hai Chủ thể.

NAM MÔ HƯƠNG TIÊN SƠN SỞ SỞ HỮU BỔN SƯ THỨ NHẤT, TRƯƠNG THANH BẢO MAHA SAMON THỔ – KHIẾU NÃO bồ tát A Sa Lê Đại Sư Lịch M. MÙA HÈ.

*

Nguồn: Chuyenla.com

By admin

Leave a Reply

Your email address will not be published.