Thu. Oct 6th, 2022

Quán Thế Âm Bồ tát trong tiếng Phạn Avalokitesvara có nghĩa là Ngài đã nghe thấy tiếng kêu thầm thiết tha từ trái tim của chúng sinh trên thế gian mà đến cứu khổ. Mang đến sự bình an vô biên, lòng từ bi, không phân biệt đối xử với muôn loài, hay nói cách khác là tình yêu thương vô bờ bến và lớn hơn gấp vạn lần tấm lòng của người mẹ hiền trên thế gian dành cho đứa con thân yêu của mình, nên được gọi là Tình mẫu tử. Quan Thế Âm.

Bạn đang xem: 12 lời nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi thuyết Kinh Pháp Hoa đã dạy rằng: Xưa kia, rất lâu đời, Quán Thế Âm là thái tử của vua Không Niệm. Lúc bấy giờ, có đức Phật tên là Tàng Trữ Như Lai, thông hiểu giáo lý vô thượng, vua và thái tử phát tâm bồ đề lớn, phát nguyện thực hành các pháp hạnh Bồ tát, và mong muốn đạt được quả vị Phật để cứu độ chúng sinh.

Ban đầu, Vua và Thái tử là những ân nhân thành tâm cúng dường quần áo, thuốc men, thức ăn, chăn màn và tất cả những vật dụng cần thiết cho Kho tàng Như Lai và chúng tăng trong suốt 3 tháng. Nhờ nhất tâm nhất tâm và nỗ lực không ngừng, Vua Không Tránh Nemesis đã đạt được Phật quả và thực hiện 48 lời thệ nguyện rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sinh, Ngài lập tức trở thành một vị Phật tên là A Di Đà, bậc thầy của thế giới phương Tây. Cực Lạc. Thái tử viên mãn cũng về cõi Cực Lạc thành một vị đại Bồ tát tên là Avalokitesvara, cùng với Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sinh về cõi Cực Lạc.

Ý nghĩa của tên Quán Thế Âm Bồ tát – Quán chiếu là quán, thấy, nghe, biết đối tượng rất rõ ràng.

– Đó là thế giới, chúng sinh thế gian.

– Âm thanh là tiếng tụng niệm, tiếng kêu cứu, cầu xin của khắp mọi nơi đau khổ. – Bồ tát là sự giải thoát cho chúng sinh, cứu độ và giác ngộ cho tất cả chúng sinh có cảm giác được giải thoát khỏi khổ đau, tai ách.

Quán Thế Âm Bồ tát đã đắc quả vị tam tai nên quán chiếu, nghe, thấy, biết tiếng kêu khổ tột cùng khắp thế gian, hiện ra ngay đó để cứu độ chúng sinh giải thoát khỏi mọi hiểm nguy. rủi ro. Chính vì vậy mới có tên là Quan Thế Âm. Vì sự tự cứu thần kỳ đó, nên trong kinh điển còn gọi là Quán Thế Âm Bồ tát.

Quán Thế Âm Bồ tát trong tiếng Phạn Avalokitesvara có nghĩa là Ngài đã nghe thấy tiếng kêu thầm thiết tha từ trái tim của chúng sinh trên thế gian mà đến cứu khổ. Mang đến sự bình an vô biên, lòng từ bi, không phân biệt đối xử với muôn loài, hay nói cách khác là tình yêu thương vô bờ bến và lớn hơn gấp vạn lần tấm lòng của người mẹ hiền trên thế gian dành cho đứa con thân yêu của mình, nên được gọi là Tình mẫu tử. Quan Thế Âm.

Trong năm có ba lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm.

Hàng năm, các tín đồ Phật giáo trên khắp thế giới thường tổ chức lễ vía Quán Thế Âm Bồ tát rất long trọng vào các ngày: 19/02, 19/06 và 19/09 âm lịch.

– Ngày 19 tháng 2 là ngày sinh của linh hồn Kwan Ying – Ngày 19 tháng 6 là hóa thân của Quan Thế Âm Thanh Đảo – Ngày 19 tháng 9 là hóa thân của Kwan Ying.

12 lời đại nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm

Đầu tiên. Nam mô Viên-Thông, hiệu Tử Tà, Quán-Âm Như Lai Quang-phát tuyên thệ.

Được ban thưởng là “Toàn hiểu”, “Toàn bộ hiểu rõ”, hắn đem pháp môn thực hành mà khuyên bảo toàn bộ.

2. Nam Mô nhất tâm vô ngại, Quan Âm Như Lai thường trú Nam Hải phát nguyện..

Với ý nghĩ không còn chướng ngại, ông nguyện ở lại Nam Hải (Nam Hải) để cứu độ chúng sinh.

3. Nam-mô trú Ta-Bà U-Minh thế giới Quan Âm Như Lai tìm cách cứu khổ.

Luôn luôn ở trong cõi Saha và U-Minh, Ngài cứu những ai kêu cầu Ngài.

4. Nam-mô hàng ác thần, trừ yêu quái Quan Âm Như Lai, có khả năng tiêu trừ nguy hiểm, thệ nguyện độ.

Xem thêm: Các Cơ Quan Chính Phủ Đến viếng Đại Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Duyên

Loại trừ tà ma và yêu quái, anh có đủ sức mạnh để cứu những người đang gặp nguy hiểm.

5. Nam-mô thanh tịnh, thanh tịnh, dương thế Quan Âm Như Lai phát thệ nguyện.

Ngài lấy một cành liễu mềm nhúng vào nước ngọt mát đựng trong một chiếc bình thanh khiết để dập tắt ngọn lửa của chúng sinh.

6. Nam-mô Đại-bi Từ bi hỷ xả, Quan Âm Như Lai thường hành thệ nguyện bình đẳng.

Thương xót kẻ đói khát và sẵn sàng tha thứ, Người không phân biệt kẻ thù ghét người thân, tất cả đều coi như nhau.

7. Nam Mô cư tuần không hư, Quan Âm Như Lai nguyện phá ba la mật.

Đi khắp nơi đây ngày đêm để cứu độ chúng sinh khỏi bị tổn hại, Ngài nguyện cứu độ chúng sinh thoát khỏi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.

số 8. Nam-mô vọng Nam mô đảnh lễ, Quan Âm Như Lai, xưa phóng quang nguyện giải thoát.

Nếu ai hướng về ngọn núi phía nam và hết lòng cầu nguyện, dù bị xiềng xích, người đó sẽ được giải thoát.

9. Nam-mô tạo thuyền hộ pháp ra khơi, Quan Âm Như Lai cứu độ tất cả chúng sinh.

Dùng phương pháp tu hành để làm con thuyền, Ngài rong ruổi trong biển khổ để cứu độ chúng sinh.

mười. Nam-mô trước yết-ma, sau báu, Quan Âm Như Lai tiếp dẫn phương Tây cầu đạo.

Nếu ai cầu nguyện và thực hành theo lời chỉ dạy của Ngài, khi lìa bỏ thân xác này, sẽ có một chặng đường dài phía trước, một tán quý theo sau, để mang về Tây Phương.

11. Nam giới-nhận Vô Lượng Thọ cõi Phật, Quán Âm Như Lai-Lai Di Đà thọ nguyện.

Ở cõi nước của Đức Phật A Di Đà, ngày đã được báo trước rằng sau này Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở vị trí đó.

Xem thêm: Phim Cuộc Đời Của Thầy Tịnh Không 2015, Mp3 Ps Tinh Khong

thứ mười hai. Nam-mô khắc thân, tỷ trại, Quán Âm Như Lai chứng quả hai giới.

Có được thân thể trang nghiêm không ai có thể so sánh được với Ngài là kết quả của việc tuân theo mười hai lời đại nguyện này.

Nguồn: Chuyenla.com

By admin

Leave a Reply

Your email address will not be published.